id="lama-theme" class="article">

Miễn phí vận chuyển với đơn hàng trên 500K

Các loại giảm xóc phổ biến sử dụng trên xe ô tô

Các loại giảm xóc phổ biến sử dụng trên xe ô tô

Chất lượng vận hành của 1 chiếc xe ( êm , bám đường , chắc, bồng bềnh …) được quyết định khá nhiều bởi 2 yếu tố là lò xo và giảm xóc.
Để hiểu rõ hơn về công dụng của những bộ phận này, hãy hình dung 1 chiếc xe không có lò xo : nó sẽ ngồi bệt xuống đất, hoặc nó sẽ giống như cấu tạo xe đạp. Chạy nhanh và sụp ổ gà, xe sẽ gãy đôi.
Giờ hãy hình dung 1 chiếc xe có lò xo mà không có giảm xóc: Bản thân sự đàn hồi của lò xo rất tốt, khi ta sụp 1 ổ gà, lò xo bắt đầu co dãn và chiếc xe sẽ giống như đi trên sóng biển. Và nếu khi lò xo co hết lại ( hết hành trình )mà sụp thêm phát ổ gà nữa , xe lại gãy .
Lò xo và giảm xóc là 2 yếu tố ràng buộc lẫn nhau để tạo ra khả năng vận hành của chiếc xe. Chúng có nhiệm vụ khác nhau nhưng được thiết kế để làm việc cùng nhau.
Lò xo cần đảm nhiệm việc cho bánh xe đi lên đi xuống. Được thiết kế dựa trên tải trọng , nhu cầu sử dụng. Nếu lắp lò xo to đùng của xe 4 tấn lên xe 1 tấn, tất nhiên nó sẽ rất lười làm việc, và tạo ra chiếc xe rất xóc. Ngược lại, lò xo của xe bé mà lắp xe to, tất nhiên nó sẽ sụm xuống và có thể nói, ta chả có lò xo nữa.

Vì cấu tạo của giảm xóc khá là khó hiểu, tôi sẽ đơn giản hóa để dễ hiểu hơn : ngoài việc dập tắt dao động của lò xo gây ra, giảm xóc còn có nhiệm vụ hóa giải những lực tác động lên xe ,sinh ra khi xe chạy.
Làm việc trên nguyên lý chuyển xung động từ bánh xe thành hành trình của giảm xóc, giảm xóc được cấu tạo để hóa giải xung động này thành 1 dạng năng lượng khác- nhiệt độ.
Để dễ hiểu, hãy hình dung ta có 1 chiếc xy lanh kim tiêm. Để bơm hết dung dịch qua đầu mũi tiêm, dù có dùng sức mạnh bao nhiêu, thì cũng không thể bơm nhanh bằng việc tháo cái kim tiêm ra khỏi xi- lanh.
Giảm xóc hóa giải xung động theo nguyên lý tương tự: dồn dung dịch chất lỏng ( ở đây là dầu )qua những lỗ nhỏ ( còn gọi là van ). Xung động càng mạnh thì năng lượng sinh ra càng nhiều, và ở đây việc dầu chảy qua những van nhỏ đã biến xung động thành dạng năng lượng mới là nhiệt độ.
Chính vì vậy với những giảm xóc bị chảy dầu, ta có thể đánh giá là nó đã hỏng. Ngoài ra vì phải làm việc với nhiệt độ cao, giảm xóc cần được cấu tạo từ những chất liệu chịu nhiệt tốt. 1 số loại rẻ tiền không chịu được nhiệt độ cao , sẽ nhanh hỏng khi chạy nhiều trên đường xấu ( giảm xóc hoạt động nhiều ).

Các dạng giảm xóc phổ biến, nằm trong mối quan tâm của người sử dụng xe bình thường :

1- Giảm xóc thông thường ( tây gọi theo cấu tạo là Twin tube ) : Lỗ ( van ) cố định nên chỉ làm việc tốt trong 1 khoảng lực xung động gây ra. Có nhiều xe rất êm ở tốc độ 30km/h, nhưng lại bồng bềnh ở 100km/h. Lại có những loại xóc lộn mề ở 30km/h trên đường xấu , nhưng lại êm ở 80km/h.. Do chính cấu tạo van phía trong giảm xóc gọi là van có thiết kế cố định, nó chỉ tốt ở trong 1 khoảng hoạt động mà thôi. Đa số xe ô tô giá rẻ ngày nay sử dụng giảm xóc dạng này, vì đơn giản là nó rẻ. Tất nhiên có những hãng sản xuất tốt hơn những hãng còn lại và đắt hơn, tuy nhiên so với các loại giảm xóc ở dưới thì nó không thể đắt bằng.

2- Giảm xóc điều khiển điện- adaptive shock absorber : Cái lỗ (van) có thể thay đổi kích thước theo sự điều khiển của điện tử.
Ví dụ đi chậm giảm xóc cần mềm, lúc này lỗ to ra và dầu đi qua dễ dàng hơn, tạo ra chiếc xe êm ái.
Khi tăng tốc hoặc cua gắt, lỗ sẽ nhỏ lại và tạo ra chiếc giảm xóc cứng hơn, có khả năng chống lại xung lực từ mặt đường cao hơn, cũng như giảm độ nghiêng của xe khi vào cua. Qua đó tạo ra chiếc xe bám đường hơn.
Chính xác mà nói , thì lỗ ( van ) trên giảm xóc ngày ngay được chia ra làm nhiều van nhỏ. Ở tốc độ thấp , chế độ giảm xóc mềm, dung dịch dầu sẽ chảy qua cùng lúc 3 van. Còn ở tốc độ cao, chế độ giảm xóc cứng, 1 hoặc 2 van đóng lại và giảm xóc trở nên cứng hơn.
Ví dụ điển hình của loại giảm xóc này ở Việt Nam là Mercedes C300 . Hãy hình dung xe có nhiều chế độ lái:
-Comfort : mở 3 van
-Sport : Mở 2 van
-Sport + : Mở 1 van
Lúc này có 3 cái giảm xóc cứng mềm khác nhau.
Các giảm xóc này được điều khiển điện từ tùy theo chế độ vận hành, tốc độ, điều kiện đường xá . Trên xe có nhiều cảm biến thu thập thông tin về tình trạng vận hành cũng như mặt đường , qua đó thay đổi cách mà giảm xóc làm việc, tạo ra chiếc xe êm ái và bám đường , có khả năng cua nhanh hơn, an toàn hơn, và tất nhiên là đắt tiền hơn.

AIR SUSPENSION :
Thay lò xo kim loại bằng bóng không khí, ta có bóng hơi thay vì lò xo. Hãy tưởng tượng nằm trên đệm lò xo chuyển sang đệm hơi có người bơm vào xì ra theo ý muốn nó sướng thế nào!
Lượng khí trong bóng hơi quyết định xe có thể cao hay thấp. Chạy càng nhanh càng cần xe bám đường, nên xe có thể tự hạ xuống khi tốc độ tăng lên ( Mercedes GLC 300 ở tốc độ 120km/h thấp hơn khi chạy 50km/h đến 3cm ). Khi vào cua xe bị nghiêng ra ngoài, các bóng hơi phía ngoài bơm căng lên và thế là hết nghiêng. Khi phanh đầu chúi xuống, hệ thống có thể làm cho xe cân bằng…..
Ngày nay, với các xe xịn sò , kết hợp với dạng giảm xóc Adaptive, hệ thống bóng hơi+ giảm xóc điều khiển điện tử có thể nói là trang bị đắt tiền và đáng tiền dành cho các xe hạng sang. Bạn sẽ tìm thấy trang bị này trên nhiều xe hạng sang đề cao tiện nghi và tốc độ : Ví dụ như Porsche, hoặc với Mercedes thì nó có trên GLC300. Hy vọng Roll Royce không quên trang bị này ( thực ra mình chưa test nên chả biết J)

Bóng hơi ở thời đại này không chỉ là 1 ngăn hơi duy nhất, Nó được cấu tạo bởi nhiều ngăn đảm nhiệm các nhiệm vụ khác nhau. Ví dụ trên Porsche Cayenne bóng hơi có 3 ngăn , kết hợp với nhau tạo ra khả năng thay đổi chiều cao, độ cứng , khả năng đàn hồi giảm chấn.


3-Aligity control : công nghệ được Mercedes trang bị trên GLC mới. Vì nhiều người muốn biết nó là cái gì nên nhân tiện viết bài này.

Aligity control là 1 tên gọi hay cho 1 công nghệ cực hay. Công nghệ này dựa trên sự linh hoạt của giảm xóc. Ở giảm xóc dạng này , để dễ hình dung, chỉ có 2 van. 1 van mở liên tục như thụt điều khiển điện, còn 1 van có khả năng thu hẹp đến mức đóng kín lại. Điều này tạo ra 1 giảm xóc biến thiên hoàn toàn tự động.
Không điều khiển điện, van phía trong giảm xóc thu nhỏ kích thước hoặc đóng hẳn chỉ bằng 1 phép đo xung lực.
Ở tốc độ chậm, van này mở và chiếc xe êm ái. Nhưng ở tốc độ cao , khi xung lực tại bánh xe lên khung xe tăng lên, van này thay đổi kích thước và tạo ra chiếc xe cứng hơn, bám đường hơn, an toàn hơn. Ngay khi đánh lái gấp, xung động tại giảm xóc tăng lên và chiếc van lập tức đóng lại, giảm nghiêng xe. Ngay khi đạp phanh gấp, nó cũng sẽ cứng ngắc để giảm xu hướng thấp đầu cao đuôi, hấp thụ động năng từ chuyển động quay của chiếc xe trong lúc phanh, và có thể giảm quãng đường phanh gấp.
Hoạt động thay đổi chế độ theo điều kiện vận hành trực tiếp, hoàn toàn tự động, công nghệ giảm xóc này có thể nói khá thành công vì có tỷ lệ chi phí sản xuất/ hiệu quả mang lại tốt hơn loại điều khiển điện, cũng như không cần phần điều khiển rắc rối. Điều này dẫn đến khách hàng sẽ tiết kiệm được chi phí thay thế, với hiệu quả không quá nhiều khác biệt.

Được ZF chế tạo, giảm xóc Aligity Control có thể được lắp trên những hãng xe khác, có thể không. Google không nói đến các loại xe khác có trang bị giảm xóc loại này. Phải chăng Mercedes độc quyền trong công nghệ, hay đơn giản là các hãng xe khác chẳng biết họ đang dùng giảm xóc gì? Câu hỏi này dành cho người đọc tự nghiên cứu!.

4- Giảm xóc điều khiển bằng nam châm điện – electromagnetic absorber:

Tương tự giảm xóc điều khiển điện ( adaptive ), nhưng với nguyên lý thay đổi độ đậm đặc của dung dịch dầu phía trong giảm xóc. Hãng sản xuất xe Anh quốc Land Rover đã tiếp cận vấn đề theo 1 cách hơi khác: Thay vì thay đổi kích thước của van phía trong giảm xóc, họ quyết định chế tạo ra 1 dung dịch có thể thay đổi độ đậm đặc, và qua đó mang đến kết quả tương tự. Audi cũng sử dụng loại này cho 1 số model của họ.
Dung dịch dầu được pha với các phân tử nano sắt, phản ứng với nam châm điện , và thay đổi độ đặc, thông qua đó tạo nên cứng / mềm.
Để so sánh với giảm xóc điện điều khiển van , cần có những bài test xe thật sự, với quan điểm của tôi, thì có vẻ loại giảm xóc này có biên độ làm việc theo hướng mềm ( êm ái) hơn so với loại điều khiển van. Bằng chứng là Range Rover có vẻ êm hơn các mẫu xe Đức lắp loại kia.
Tuy nhiên công nghệ này đã được Mercedes sử dụng vào việc chế tạo các điểm định vị giữa thân xe ( body ) và gầm xe ( chassic ) trên mẫu AMG GTR. Với kết quả là tạo ra chiếc xe êm ái trong điều kiện sử dụng hàng ngày khi điểm định vị mềm mại có tính chất giảm rung động từ động cơ cũng như hệ thống treo, truyền động đến cabin. Và trở nên cứng ngắc khi chiếc xe cần sự gắn kết giữa body và chassic, đảm bảo người lái có cảm nhận tốt nhất về chiếc xe trong điều kiện trường đua.
Dưới 1 góc nhìn nào đó thì AMG GTR có vẻ được chế tạo như xe Suv chassic rờiJ Tuy nhiên công nghệ này đã giúp model trên trở thành chiếc xe thể thao chạy phố êm ái khi cần.

Bài này trình bày với tiêu chí sao cho dễ hiểu, đối với những người am hiểu về cấu tạo giảm xóc có thể thấy chưa chính xác lắm , tuy nhiên hy vọng đa phần người quan tâm sẽ hiểu.

Nguồn: Fb Vinh Nguyen 

Bài sau →